Động lực phát triển đất nước: [Bài 2] Tư duy mới về môi trường, sinh thái
Tin tức - Sự kiện 15/01/2026
Tư duy về môi trường, sinh thái qua các kỳ đại hội
Từ Đại hội VI mở đầu công cuộc Đổi mới, tài nguyên được hiểu theo nghĩa hẹp, thiên về yếu tố vật chất phục vụ mục tiêu khắc phục khủng hoảng kinh tế xã hội. Đất đai nông nghiệp, lao động phổ thông, rừng, khoáng sản giữ vai trò trung tâm trong định hướng chính sách. Cách tiếp cận tập trung giải phóng lực lượng sản xuất, khơi thông khả năng tạo ra lương thực, hàng tiêu dùng, hàng xuất khẩu. Môi trường được đề cập gián tiếp thông qua yêu cầu bảo vệ rừng, duy trì nguồn nước cho sản xuất nông nghiệp. Tư duy phát triển thời kỳ này ưu tiên tăng sản lượng, bảo đảm an ninh lương thực, ổn định đời sống dân cư.
.jpg)
Việt Nam chọn mô hình phát triển dựa trên tri thức, công nghệ, quản lý hiệu quả, sử dụng tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên, bảo đảm cân bằng giữa tăng trưởng kinh tế, tiến bộ xã hội, bảo vệ môi trường.
Sang giai đoạn Đại hội VII và Đại hội VIII, nhận thức về mối quan hệ giữa kinh tế và xã hội từng bước mở rộng. Văn kiện bắt đầu đề cập tiết kiệm tài nguyên quốc gia, sử dụng hợp lý đất đai, khoáng sản. Khai thác dầu khí, khoáng sản trở thành nguồn tích lũy quan trọng cho ngân sách, phục vụ công nghiệp hóa. Quan điểm hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế và tiến bộ xã hội xuất hiện, cho thấy sự dịch chuyển khỏi tư duy tăng trưởng thuần túy. Đại hội VIII ghi nhận khái niệm phát triển bền vững, ứng dụng công nghệ sạch, phản ánh tiếp thu xu hướng toàn cầu sau Hội nghị Rio 1992. Dù vậy, mô hình phát triển vẫn nghiêng về chiều rộng, dựa vào vốn đầu tư lớn, lao động giá rẻ, khai thác tài nguyên với cường độ cao, tạo áp lực rõ rệt lên môi trường sinh thái.
Bước sang thế kỷ 21, Đại hội IX xác lập yêu cầu phát triển nhanh, hiệu quả, bền vững như một chỉnh thể thống nhất. Tài nguyên không giới hạn ở thiên nhiên mà mở rộng sang vốn đầu tư nước ngoài, viện trợ phát triển, năng lực quản lý. Cụm từ cải thiện môi trường được sử dụng, cho thấy nhận thức về suy giảm chất lượng môi trường cần giải pháp chủ động.
Đại hội X tiếp tục nâng tầm con người thành trung tâm phát triển, coi nguồn nhân lực là động lực then chốt. Kinh tế tri thức được nhấn mạnh, đặt nền tảng cho chuyển dịch cơ cấu tăng trưởng. Dẫu vậy, quá trình thu hút đầu tư giai đoạn hội nhập sâu rộng bộc lộ khoảng cách giữa định hướng chính sách và triển khai, khi nhiều dự án tiêu tốn năng lượng, phát thải lớn được cấp phép, làm gia tăng rủi ro môi trường.
Đại hội XI đánh dấu bước ngoặt quan trọng khi Đảng nhận diện rõ giới hạn của mô hình tăng trưởng dựa vào khai thác tài nguyên thô và gia công. Yêu cầu đổi mới mô hình tăng trưởng, tái cơ cấu nền kinh tế được xác lập như nhiệm vụ chiến lược. Phát triển bền vững trở thành tiêu chí đánh giá chất lượng tăng trưởng. Bảo vệ môi trường sinh thái được coi là yếu tố cấu thành hiệu quả kinh tế dài hạn, tạo tiền đề cho các chiến lược tăng trưởng xanh, sử dụng tiết kiệm tài nguyên, giảm phát thải.
Giai đoạn Đại hội XII diễn ra dưới tác động rõ nét của biến đổi khí hậu, xâm nhập mặn, suy thoái hệ sinh thái, sự cố môi trường biển. Văn kiện khẳng định chủ động ứng phó biến đổi khí hậu gắn với quản lý tài nguyên, phát triển kinh tế biển bền vững. Tài nguyên biển được nhìn nhận theo nghĩa tổng hợp, bao gồm không gian phát triển hàng hải, năng lượng, du lịch, bảo tồn hệ sinh thái. Kinh tế tư nhân được xác định là động lực quan trọng, góp phần huy động nguồn lực xã hội cho phát triển xanh.
Đại hội XIII tiếp tục mở rộng nội hàm tài nguyên theo hướng hiện đại. Khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số được xác định là nền tảng chủ yếu cho tăng trưởng nhanh và bền vững. Lần đầu tiên, các chỉ tiêu môi trường định lượng được đưa vào văn kiện, thể hiện cam kết chính trị rõ ràng. Nguồn lực văn hóa, sức mạnh con người Việt Nam được nhấn mạnh như yếu tố nội sinh, gắn kết phát triển kinh tế với gìn giữ bản sắc, tăng cường sức mạnh mềm quốc gia. Nguyên tắc không đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng kinh tế đơn thuần được khẳng định mạnh mẽ, trở thành định hướng xuyên suốt cho lựa chọn mô hình phát triển.
Dự thảo văn kiện Đại hội XIV thể hiện bước phát triển mới trong tư duy sử dụng tài nguyên. Tài nguyên được hiểu theo nghĩa rộng, bao gồm dữ liệu số, chất lượng thể chế, năng lực quản trị, khả năng đổi mới sáng tạo, giá trị văn hóa. Cách tiếp cận này phản ánh chuyển dịch sang mô hình phát triển dựa trên tri thức, công nghệ, quản lý hiệu quả, sử dụng tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên, bảo đảm cân bằng giữa tăng trưởng kinh tế, tiến bộ xã hội, bảo vệ môi trường.
Quá trình thay đổi tư duy từ Đại hội VI đến dự thảo văn kiện Đại hội XIV cho thấy phát triển bền vững đã trở thành trụ cột chiến lược, định hình con đường phát triển dài hạn của Việt Nam.
Đại hội XIV với cách tiếp cận mới về tài nguyên
Đại hội XIV được nhìn nhận như bước chuyển về chất trong tư duy phát triển, thể hiện qua cách tiếp cận mới đối với sử dụng tài nguyên. Khái niệm tài nguyên tại dự thảo văn kiện không dừng ở phạm vi tài nguyên thiên nhiên truyền thống, được mở rộng sang các yếu tố phi vật chất có khả năng tạo giá trị dài hạn cho quốc gia. Thế giới vận động nhanh, bất định, phức tạp, khó dự báo, yêu cầu đặt ra đối với Việt Nam không dừng ở thích nghi thụ động mà hướng tới tư thế chủ động định hình con đường phát triển. Trong dòng chảy đó, sử dụng tài nguyên thiên nhiên được nâng lên thành chiến lược tổng hợp, gắn chặt với khát vọng phát triển đất nước hùng cường, thịnh vượng.
.jpg)
Dự thảo văn kiện Đại hội XIV đặt môi trường, hệ sinh thái tự nhiên, hệ sinh thái xã hội, hệ sinh thái đổi mới sáng tạo vào vị trí trung tâm của phát triển.
Trong kỷ nguyên sinh thái, dự thảo văn kiện Đại hội XIV đặt môi trường, hệ sinh thái tự nhiên, hệ sinh thái xã hội, hệ sinh thái đổi mới sáng tạo vào vị trí trung tâm của phát triển. Tài nguyên lớn nhất không chỉ giới hạn ở đất đai, khoáng sản hay lao động phổ thông mà được hiểu là niềm tin xã hội, ý chí tự chủ, tự tin, tự lực, tự cường, tự hào dân tộc. Nguồn lực tinh thần tạo nền tảng cho sự đồng thuận, huy động sức mạnh toàn xã hội, tăng khả năng vượt qua cú sốc bên ngoài.
So với các giai đoạn trước, mục tiêu phát triển tại Đại hội XIV hướng tới kỷ nguyên mới, kỷ nguyên phục hồi hệ sinh thái, cân bằng giữa con người và tự nhiên, giữa môi trường và phát triển, đưa Việt Nam trở thành quốc gia công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao, đòi hỏi chất lượng nguồn lực cao hơn, hàm lượng tri thức lớn hơn, năng lực quản trị tinh vi hơn.
Ba đột phá chiến lược
Ba đột phá chiến lược về nguồn lực trong dự thảo thể hiện rõ tư duy đổi mới. Thể chế được xác định là đột phá của đột phá, được coi như nguồn lực phát triển trực tiếp. Văn kiện chỉ ra tình trạng ách tắc thể chế gây lãng phí đất đai, vốn, thời gian phát triển. Hoàn thiện pháp luật đất đai theo hướng thị trường hóa giá trị đất, tăng minh bạch, giảm cơ chế xin cho được kỳ vọng biến đất đai thành nguồn lực tài chính công khai. Phân cấp, phân quyền gắn với trách nhiệm giải trình được nhấn mạnh nhằm giải phóng tính chủ động của địa phương, rút ngắn độ trễ chính sách, khai thác tốt hơn lợi thế từng vùng.
Dữ liệu, khoa học công nghệ được đặt ở vị trí động lực trung tâm. Lần đầu tiên dữ liệu được nhìn nhận như tài nguyên quốc gia, có khả năng sinh lợi lâu dài nếu được quản trị hiệu quả. Đầu tư hạ tầng số, trung tâm dữ liệu quốc gia, nền tảng chia sẻ dữ liệu được coi là điều kiện then chốt để khai thác nguồn lực mới. Điểm đột phá quan trọng nằm ở tư duy quản trị rủi ro trong nghiên cứu khoa học, cho phép chấp nhận thất bại có kiểm soát. Cách tiếp cận này giải phóng trí tuệ sáng tạo, giảm tâm lý e ngại trách nhiệm, khuyến khích đổi mới thực chất.
Nguồn nhân lực được chuyển từ trọng tâm đào tạo đại trà sang thu hút, trọng dụng nhân tài. Dự thảo nhấn mạnh chính sách đãi ngộ đặc thù cho đội ngũ trí thức, chuyên gia đầu ngành, phản ánh nhận thức rằng trong kinh tế tri thức, giá trị do một cá nhân xuất sắc tạo ra vượt xa mô hình lao động số lượng lớn. Cách tiếp cận này gắn liền với yêu cầu cạnh tranh toàn cầu về nhân lực chất lượng cao.
Tháo gỡ các điểm nghẽn
Dự thảo văn kiện Đại hội XIV đồng thời chỉ ra những điểm nghẽn cần tháo gỡ. Lãng phí nguồn lực do chậm trễ thể chế được nhận diện như vấn đề lớn, thể hiện qua nhiều dự án treo, đất đai bỏ hoang vì vướng pháp lý. Hoàn thiện đồng bộ thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đưa Luật Đất đai 2024 vào cuộc sống được coi là giải pháp then chốt để giải phóng nguồn lực bị kìm hãm. Thách thức chuyển đổi xanh gắn với an ninh năng lượng đặt ra bài toán cân bằng giữa tăng trưởng cao và bảo đảm nguồn cung năng lượng bền vững. Dự thảo định hướng phát triển công nghiệp năng lượng tái tạo nội địa, làm chủ công nghệ, biến nắng, gió thành lợi thế cạnh tranh thu hút dòng vốn đầu tư chất lượng cao.
Nghịch lý nguồn nhân lực trong kỷ nguyên số được chỉ ra khi dân số bước vào giai đoạn già hóa, lợi thế lao động giá rẻ suy giảm. Chiến lược vươn mình đặt cược vào thế hệ trẻ, đội ngũ trí thức, thông qua cơ chế bảo vệ cán bộ dám nghĩ dám làm, cơ chế tài chính đặc thù cho khoa học công nghệ. Cách tiếp cận này phản ánh sự chuyển dịch từ khai thác lao động giản đơn sang khai thác trí tuệ.
Toàn bộ nội dung dự thảo văn kiện cho thấy sự tăng tốc rõ rệt về chất lượng tư duy phát triển. Tài nguyên được tái định nghĩa theo hướng hiện đại, đa chiều, gắn với trí tuệ, dữ liệu, thể chế. Tâm thế phát triển chuyển từ theo sau sang chủ động sánh vai, tìm kiếm lợi thế đi trước trong chuyển đổi số, chuyển đổi xanh.
Khả năng hiện thực hóa khát vọng vươn mình phụ thuộc vào năng lực chuyển hóa tư duy chiến lược thành luật pháp đồng bộ, hành động quyết liệt, sử dụng hiệu quả từng đơn vị tài nguyên hữu hình lẫn vô hình của quốc gia.
TIN LIÊN QUAN
- Kỷ niệm 136 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 - 19/5/2026)
- Bộ Nông nghiệp và Môi trường tổ chức Hội nghị giao ban công tác tháng 4, triển khai nhiệm vụ tháng 5 và quý II/2026
- Bộ Nông nghiệp và Môi trường và Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường tăng cường phối hợp lập pháp, giám sát và hoàn thiện chính sách pháp luật.
- Bộ Nông nghiệp và Môi trường cùng Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội phối hợp hoàn thiện chính sách pháp luật, đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững trong giai đoạn mới.
- Cung cấp báo giá thực hiện dịch vụ thẩm định giá xác định giá trị “Thiết bị đo bụi PM10 và PM2.5”
- Hội thảo Lấy ý kiến góp ý Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo vệ Môi trường
- Bộ trưởng Trịnh Việt Hùng chỉ đạo đẩy nhanh sửa đổi 3 luật lớn về đất đai, môi trường, biển đảo
- Hội thảo góp ý Dự thảo luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo vệ môi trường
- Thủ tướng định hướng các nhiệm vụ trọng tâm của ngành Nông nghiệp và Môi trường thời gian tới
- Hội thảo góp ý Dự thảo luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo vệ môi trường: Từ "chân phanh" ngăn chặn ô nhiễm đến "động lực" cho nền kinh tế xanh